Chuyển đến nội dung chính

Có thể điều trị ung thư bằng tế bào gốc hay không?

Phương pháp cấy ghép tế bào gốc không còn xa lạ trong y học hiện đại. Phương pháp  này thường được sử dụng trong hỗ trợ các bệnh lý liên quan đến tế bào tạo máu như suy tủy, ung thư hạch, bệnh bạch cầu…Vậy trên thực tế có thể điều trị ung thư bằng tế bào gốc hay không? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.

Cấy ghép tế bào gốc có thể dùng trong điều trị ung thư

1. Hiểu đúng về điều trị ung thư bằng tế bào gốc

Các tế bào gốc tập trung nhiều ở tủy xương có vai trò sản xuất hồng cầu (giúp vận chuyển oxy đi khắp các tế bào), bạch cầu (tổ chức của hệ miễn dịch) và tiểu cầu (đảm bảo chức năng đông máu). Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư sau khi điều trị với liều cao hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp cả hai thường gặp tình trạng suy tủy, giảm sản sinh tế bào máu, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe. Khi đó, việc cấy ghép tế bào gốc được cân nhắc sử dụng, nhằm phục hồi lại hệ tạo máu cho cơ thể. 

Cấy ghép tế bào gốc thường không có tác dụng trực tiếp ức chế và kiểm soát bệnh lý ung thư. Thay vào đó, phương pháp này giúp phục hồi lại chức năng tạo máu của tủy xương sau tác động của hóa chất hay xạ trị. Các tế bào gốc sẽ được đưa vào cơ thể bệnh nhân thông qua đường tĩnh mạch, chúng di chuyển trong máu đến tủy xương và bắt đầu nhiệm vụ sản sinh các tế bào máu khỏe mạnh. 

Trong một số bệnh ung thư, đặc biệt liên quan đến các tế bào tạo máu như bệnh bạch cầu, đa u tủy xương, phương pháp cấy ghép tế bào gốc có tác dụng chống lại ung bướu. Điều này xảy ra khi tế bào bạch cầu từ mô ghép (tế bào gốc của người hiến tặng) có khả năng tấn công và tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể. Khi đó, hiệu quả “dọn dẹp” tế bào ung bướu được tăng cường khi tiến hành điều trị ung thư bằng tế bào gốc.

Xem thêm: Dấu hiệu nhận biết và cách điều trị ung thư máu phổ biến

2. Có mấy loại cấy ghép tế bào gốc?

Cấy ghép tế bào gốc trong điều trị ung thư được chia làm ba loại chính:

Cấy ghép tế bào gốc tự thân

Điều trị ung thư bằng tế bào gốc tự thân có nghĩa là nguồn tế bào gốc được lấy từ chính cơ thể của người bệnh. Trước khi điều trị hóa xạ trị ung thư, các tế bào gốc được lấy từ máu hoặc tủy xương của bệnh nhân và đem đi đông lạnh. Sau khi điều trị, các tế bào gốc này sẽ được rã đông và truyền lại vào cơ thể của người bệnh. 

Do tế bào gốc tạo máu của chính cơ thể được tách ra và truyền lại nên bệnh nhân hạn chế được hiện tượng thải ghép. Tuy nhiên thách thức lớn nhất của phương pháp cấy ghép tế bào gốc tự thân là yêu cầu tách được các tế bào ung thư tồn tại trong nguồn tủy trữ lạnh. Quá trình loại bỏ các tế bào ung bướu này có thể vô tình tiêu diệt cả các tế bào gốc khỏe mạnh, tăng nguy cơ nhiễm trùng cho cơ thể. Trong trường hợp không loại trừ được hết các tế bào ác tính, chúng có thể xâm nhập cơ thể lần nữa, gây tái phát ung bướu sau điều trị. 

Cấy ghép tế bào gốc đồng loại

Dòng tế bào gốc này không phải của người bệnh mà từ nguồn người hiến tặng. Người cho thường là những thành viên trong gia đình, có cùng huyết thống. Ưu điểm của hình thức ghép tủy này là các tế bào gốc khỏe mạnh hoàn toàn sẽ được truyền vào cơ thể, xây dựng một hệ miễn dịch mới giúp tiêu diệt tốt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể. Tuy nhiên các tế bào gốc này cũng được coi là một tế bào “lạ” đối với cơ thể, khi đó bệnh nhân có thể gặp một số nguy cơ sau:

  • Các tế bào gốc có thể bị phá hủy trước khi chúng ổn định tại tủy xương do sự tấn công của hệ miễn dịch.
  • Hiện tượng kháng ghép: các tế bào miễn dịch mới được tạo thành từ các tế bào gốc này có thể tấn công cơ thể người bệnh (do không tương thích với cơ thể).
  • Bệnh nhân có nguy cơ bị nhiễm trùng sau điều trị ung thư bằng tế bào gốc đồng loại. 

Cấy ghép tế bào gốc cùng hệ

Đây là loại cấy ghép tế bào gốc mà nguồn hiến tặng là anh, chị em sinh đôi hay sinh ba của bệnh nhân. Đối với dạng cấy ghép này, bệnh nhân sẽ không gặp phải hiện tượng kháng ghép và đảm bảo các tế bào máu mới được tạo ra khỏe mạnh hoàn toàn. Cấy ghép tế bào gốc cùng hệ giúp phục hồi tốt chức năng tạo máu cho người bệnh nhưng ít có ý nghĩa trong tiêu diệt ung bướu trong cơ thể. 

Tế bào gốc có thể lấy từ chính người bệnh hoặc người thân trong gia đình

3. Những hạn chế của phương pháp cấy ghép tế bào gốc

Không phải tất cả các bệnh ung thư đều có thể điều trị bằng phương pháp tế bào gốc. Mặc dù các tế bào miễn dịch mới có khả năng tấn công và tiêu diệt tế bào ung thư trong cơ thể, tuy nhiên điều này chưa đủ cấy ghép tế bào gốc trở thành liệu pháp điều trị ung thư chính. Do đó, ứng dụng chủ yếu của phương pháp này là bổ trợ cho hóa trị và xạ trị ung bướu nhằm khắc phục tình trạng suy tủy sau điều trị. 

Trong nhiều trường hợp, điều trị ung thư bằng tế bào gốc là cách duy nhất phục hồi sức khỏe và kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Tuy nhiên, phương pháp này cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác dụng không mong muốn cho cơ thể:

  • Cấy ghép tế bào gốc có thể làm tăng khả năng nhiễm trùng, chảy máu cho cơ thể người bệnh.
  • Nếu bạn cấy ghép đồng loại, các tế bào gốc không thực sự tương thích thì khi đó các tế bào này trở thành tác nhân gây hại cho cơ thể. Chúng có thể tấn công chính các tế bào lành và gây ra tổn thương da, gan, thận và nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Để ngăn chặn hiện tượng kháng ghép này, bác sĩ có thể chỉ định cho bệnh nhân dùng thuốc ức chế miễn dịch.

Kỹ thuật lấy tế bào gốc của bệnh nhân hay người hiến tặng không hề đơn giản nên chỉ được thực hiện ở một số bệnh viện lớn, có trang thiết bị tiên tiến và chuyên gia giàu kinh nghiệm. Mặt khác đây cũng là phương pháp tốn kém, không phải ai cũng có đủ khả năng chi trả. Chính vì vậy phương pháp này ít phổ biến trong chữa bệnh nói chung và điều trị ung thư nói riêng. 

Điều trị ung thư bằng tế bào gốc đang ngày càng được quan tâm, nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi hơn trong chữa bệnh. Tuy nhiên phương pháp chữa ung bướu chủ yếu nhất hiện nay là phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, thuốc đích và miễn dịch. Để tìm hiểu thêm thông tin về cách điều trị ung thư hiệu quả, xin vui lòng liên hệ 0936.057.556 để gặp chuyên gia tư vấn.



source https://bccpharma.com.vn/co-the-dieu-tri-ung-thu-bang-te-bao-goc-hay-khong/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Giải đáp thắc mắc: Người đang điều trị ung thư có nên ăn yến không?

Tổ yến rất giàu dinh dưỡng, nên thường được sử dụng cho người có thể trạng kém, suy nhược cơ thể, trong đó có bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chứng minh tổ yến có khả năng kích thích sự phân chia tế bào. Điều này khiến nhiều người băn khoăn về ảnh hưởng của tổ yến đối với sức khỏe của bệnh nhân ung thư. Vậy người đang điều trị ung thư có nên ăn yến hay không, bài viết dưới đây sẽ giải đáp thắc mắc này. Vai trò của tổ yến đối với sức khỏe con người Tổ yến được biết đến với tên gọi “Trứng cá của phương Đông”, là thực phẩm giàu dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe con người. Thực phẩm này cho thấy nhiều hoạt tính sinh học quan trọng nên được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thực phẩm và dược phẩm. Các công dụng phổ biến được ghi nhận bao gồm:  Kích thích hệ tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng: Các nguyên tố vi lượng trong tổ yến như kẽm, sắt, Cr..có tác dụng kích thích vị giác, giúp ăn uống ngon miệng, nhờ đó cải thiện chức năng hệ tiêu hóa, tăng cường hấp thu các chất dinh d...

Khi nào nên có con sau khi điều trị ung thư?

Người mắc ung thư có thể mang thai và sinh con hay không? Đây là chính là niềm trăn trở của nhiều bệnh nhân khi đối mặt với ung bướu và các liệu pháp điều trị. Việc lập kế hoạch có con sau khi điều trị ung thư cần phụ thuộc vào loại ung bướu, phương pháp điều trị và thực trạng sức khỏe của người bệnh.  Bệnh nhân ung thư có thể mang thai không? Ảnh hưởng của phương pháp điều trị đến khả năng mang thai Phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị là những phương pháp phổ biến nhất trong điều trị ung thư. Các phương pháp này tấn công, tiêu diệt các tế bào ung bướu nhưng cũng tác động không nhỏ tới những tế bào lành khác của cơ thể. Nếu tác động tới cơ quan sinh dục thì khả năng có con sau khi điều trị ung thư của nam và cả nữ có thể bị ảnh hưởng.  Phẫu thuật Trong trường hợp ung thư ở cơ quan sinh dục, việc phẫu thuật khối u có thể trực tiếp gây ảnh hưởng đến việc sinh con sau này của bạn. Cụ thể, việc cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ tử cung trong điều trị ung thư có thể khiến bệnh nhân khó...

5 bệnh phổ biến ở trẻ em lúc giao mùa và cách phòng tránh

Đặc trưng của thời tiết giao mùa từ mùa thu sang đông là nhiệt độ và thời tiết thay đổi đột ngột, độ ẩm không khí xuống thấp, chênh lệch nhiệt độ ngày – đêm lớn… Đây là thời điểm thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virus phát triển mạnh gây ra các bệnh phổ biến ở trẻ em như: cảm cúm, sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp… Vì vậy cha mẹ cần nắm rõ điều này để có kiến thức ứng phó và phòng tránh kịp thời cho trẻ.  1. Các bệnh phổ biến ở trẻ em lúc giao mùa 1.1. Bệnh cảm cúm Cảm cúm là bệnh phổ biến ở trẻ em vào thời điểm giao mùa do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, virus cúm dễ xâm nhập cơ thể, gây bệnh. Virus cúm thường lây qua đường hô hấp từ người này qua người khác nên nhiều khi bạn không biết bé lây từ đâu.  Sốt là một trong những triệu chứng khi trẻ nhiễm virus cúm Các triệu chứng của cảm cúm thông thường thường xuất hiện khoảng 1 – 3 ngày sau khi nhiễm virus cảm cúm. Trẻ khi mắc cảm cúm sẽ có triệu chứng sốt, đau họng, nghẹt mũi, hắt hơi, đau họng, cơ thể mệt mỏi. Đặc biệ...